Chén trà trong văn hóa ẩm thực
Văn
hóa ẩm thực nảy sinh đồng thời với sự xuất hiện của loài người
và ngày càng phong phú theo sự phát triển của văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần. Từ xưa đến nay, loài người đã xây
dựng, tích luỹ, bồi đắp được nhiều tri thức sâu sắc, đa dạng
và độc đáo chung quanh chuyện ăn uống thường ngày. Ðặc biệt,
nghệ thuật ẩm thực của ngời Á Đông thắm đượm quan điểm chỉnh
thể, lấy sự quân bình âm dương và hoà hợp thiên nhiên làm
nền móng, trong đó nghệ thuật thưởng trà là một trong những
nghệ thuật ẩm thủy hàng đầu.
Ở
Việt Nam, tục uống trà có từ rất lâu đời. Người Việt Nam
biết đến trà sớm hơn nhiều so với các nước. Theo một tài
liệu khảo cứu của Ủy ban khoa học xã hội thì người ta đã
tìm thấy những dấu tích của lá và cây chè hóa thạch ở vùng
đất tổ Hùng Vương (Phú Thọ). Xa hơn nữa, họ còn nghi ngờ
cây chè đã có từ thời kỳ đồ đá sơn vi (văn hóa Hòa Bình).
Cho đến nay, ở vùng Suối Giàng (Văn Chấn - Nghĩa Lộ - Yên
Bái), trên độ cao 1.000 m so với mặt biển, có một rừng chè
hoang khoảng 40.000 cây chè dại, trong đó có một cây chè
cổ thụ lớn nhất, ba người ôm không xuể. Ðã có những kết
luận khoa học trong và ngoài nước khẳng định rằng: Việt
Nam là một trong những "chiếc nôi" cổ nhất của
cây chè thế giới.
Tục uống trà ở Việt Nam rất phong phú. Từ
cách uống cầu kỳ cổ xưa đến cách uống bình dân, hiện đại.
Thường một bộ đồ trà có bốn chén quân, một chén tống để
chuyên trà. Nước pha trà phải là thứ nước mưa trong hoặc
thứ sương đọng trên lá sen mà người đi thuyền hứng từng
giọt vào buổi sớm. Phương ngôn còn lưu truyền những lời
dạy về cách uống trà như "trà dư, tửu hậu", "rượu
ngâm nga, trà liền tay", "Bán dạ tam bôi tửu.
Bình minh nhất trản trà"...
Nói đến nghệ thuật thưởng trà Việt Nam là
người ta lại nhắc đến thú uống trà của người Hà Nội. Vẻ
thanh lịch, trang nhã, sự cầu kỳ trong ẩm thực của người
Hà Nội đã nâng tính thẩm mỹ của chén trà lên một trình độ
rất cao. Nếu người dân vùng khác thích uống trà "mộc"
(trà không ướp hương) thì nhiều gia đình Hà Nội xưa lại
thích uống trà ướp sen, trà nhài, trà ngâu, trà cúc, trà
sói... Ðặc biệt trà sen là một thứ trà quý chỉ dùng để tiếp
khách tri âm hoặc làm quà biếu. Trà sen tựa thứ trà mạn
Hà Giang, mỗi cân ướp từ 1000 - 1200 bông sen Tây Hồ và
phải là thứ sen chưa bóc cánh với "độ" hương cao
nhất. Trà sen loại đặc biệt giá lúc nào cũng ở mức 2 - 3
chỉ vàng một cân. Ở Hà Nội hiện còn khoảng 30 gia đình làm
loại trà này.
Ở nông thôn, người bình dân hay uống trà
xanh. Đó là những lá chè tươi, rửa sạch, hãm trong nước
sôi sủi tăm cá, nước trà thơm dịu, xanh ngắt. Uống trà bằng
bát sành, hút thuốc lào và nếu sang hơn, có thêm phong chè
làm hợac kẹo"cu đơ" xứ Nghệ. Ở Nghệ an còn có
tục uống "chè gay", hái cả cành lẫn lá hãm trong
nước sôi. Trà được ủ nóng trên bếp than, lúc khát, chắt
nước trong nồi ra uống.
Người Việt Nam hiện nay uống chủ yếu là trà
xanh sơ chế bằng phương pháp thủ công mà người đời thường
gọi là "trà mộc","trà sao suốt" hay
"trà móc câu". Gọi là "trà móc câu"
vì cánh trà sao quăn giống hình chiếc móc câu. Song người
sành trà lại bảo phải gọi là "trà mốc cau" mới
đúng vì chè tròn cánh, trôi tay, có mốc trắng như mốc cây
cau. Còn "trà sao suốt" là phương pháp sao trà
bằng nhiệt, tách nước (giảm bớt thủy phần) bằng tay với
ngọn lửa liên tục, đều đặn, không to quá, không nhỏ quá.
Người ta sao trà bằng chảo gang. Những thứ trà ngon thường
được gọi chung là "chè Thái". Nhưng thực ra, trà
bán ở thị trường hiện nay có rất nhiều nguồn gốc: trà Tân
Cương, trà Mạn Hà Giang, trà Vị Xuyên, trà Lục Yên Bái,
trà Suối Giàng.... Song trà dù được chế biến, được uống
bằng cách nào (độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm) vẫn biểu thị một
thứ "đạo". " Ðạo trà" Việt Nam thật
trân trọng ở cách dâng mời đầy ngụ ý. Dù lòng vui hay buồn,
dù trời mưa hay nắng, khách cũng không thể từ chối một ly
trà nóng khi chủ nhà trân trọng dâng mời bằng hai tay. Dâng
trà đã là một ứng xử văn hóa phổ quát biểu hiện sự lễ độ,
lòng mến khách. Uống trà cũng là một ứng xử văn hóa. Uống
từng ngụm nhỏ để thưởng thức hết cái thơm ngọt của trà và
cảm nhận hơi ấm của chén trà đủ nóng bàn tay ta khi mùa
đông lạnh giá. Uống để đáp lại lòng mến khách của người
dâng trà, để bắt đầu một tâm sự, một nỗi niềm, để bàn chuyện
gia đình, xã hội, nhân tình thế thái, để cảm thấy trong
trà có cả hương vị của trời đất, cỏ cây. Dâng trà và dùng
trà cũng là một biểu hiện phong độ văn hóa, sự thanh cao,
tình tri âm, tri kỷ, lòng mong muốn hoà hợp và xóa đi những
đố kỵ, hận thù. Uống trà là một cách biểu thị mức độ tình
cảm và học vấn người đối thoại.
Những khía cạnh của văn hóa ứng xử Việt Nam
rất phong phú và biểu hiện tập trung nhất ở tục uống trà.
Người ta có thể uống trà một cách im lặng và nhiều khi sự
im lặng đã ẩn chứa nhiều điều. Người ta có thể xét đoán
tâm lý người đối thoại khi dùng trà. Khi đã trở thành một
cái thú thì người ta không thể quên nó, vì trà đồng nghĩa
với sự sảng khoái, tỉnh táo, tĩnh tâm để mưu điều thiện,
tránh điều ác. Tuy nhiên, trà cũng rất cần sự tiết độ. Người
Việt Nam không uống nhiều, uống đặc và cũng không thể uống
liên tục suốt ngày. Vì trà là một triết học về sự tế nhị,
nhạy cảm, thanh tao, sự suy ngẫm và óc tỉnh táo. Trà là
một sự giao hòa với thiên nhiên, sự ứng xử hợp lý với thời
gian, sự tiếp cận đầy nhân tính với không gian, với môi
trường và con người. Ở Việt Nam luôn tồn tại một nền văn
hóa trà thanh lịch và tỏa hương.
[Sưu tầm]
Các bài
khác:
1.
Nghệ thuật ẩm thực
2.
Cá bông lau kho tộ
3.
Nét đẹp văn hóa ẩm thực
4.
Bún Thang Hà Nội
5.
Bún Bò Huế
6.
Gia vị trong các món ăn
Việt Nam
7.
Bánh tôm Hồ Tây
8.
Phở Việt Nam |